中文简体 | English | ฉบับภาษาไทย | Home  
Tin tức chính trị
Ấn tượng Nam Ninh
Cuộc sống Nam Ninh
Tư vấn Thương Mại
Dịch vụ du lịch
Hướng dẫn dịch vụ
Từ khóa: 

“ĐIỀU LỆ VỀ QUẢN LÝ HỢP TÁC LAO ĐỘNG ĐỐI NGOẠI” CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 1 THÁNG 8 NĂM 2012
2015-06-16
 
  Chương I. Quy định chung

  Điều 1: Điều lệ này ra đời nhằm mục đích quy phạm hợp tác lao động đối ngoại, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động, xúc tiến phát triển lành mạnh hợp tác lao động đối ngoại.

 Điều 2: Hợp tác lao động đối ngoại được đề cập đến trong điều lệ này, là chỉ hoạt động mang tính kinh doanh khi tổ chức người lao động đến nước hoặc khu vực khác làm việc cho doanh nghiệp hoặc tổ chức nước ngoài (dưới đây gọi chung là chủ nước ngoài).

  Doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài không được tuyển người lao động trong nước Trung Quốc đưa ra nước ngoài làm việc.

  Điều 3: Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ cho việc triển khai hợp tác lao động đối ngoại hợp pháp, nâng cao trình độ hợp tác lao động đối ngoại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động


  Các ban ngành hữu quan của Quốc vụ viện biên soạn và hoàn thiện chính sách giải pháp phát triển hợp tác lao động đối ngoại, xây dựng hệ thống dịch vụ hợp tác lao động đối ngoại kiện toàn và cơ chế phòng chống, xử lý rủi ro.

  Điều 4: Ban ngành chủ quản của Quốc vụ viện phụ trách công tác quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại trên toàn quốc. Các ban ngành thuộc Quốc vụ viện như ngoại giao, công an, đảm bảo xã hội và nguồn nhân lực, giao thông vận tải, xây dựng nhà ở thành thị và nông thôn, ngư nghiệp, quản lý hành chính công thương…trong phạm vi chức trách của mình, phụ trách công tác liên quan đến quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại.
  Chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên thống nhất lãnh đạo, tổ chức, điều tiết công tác quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại trong khu vực hành chính của mình. Ban ngành chủ quản thương vụ chính quyền nhân dân địa phương cấp huyện trở lên phụ trách công tác quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại trong khu vực hành chính của mình, các cơ quan hữu quan khác trong phạm vi chức trách của mình phụ trách các công tác liện quan đến quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại.


Chương II: Doanh nghiệp hoạt động hợp tác lao động đối ngoại và người lao động

  Điều 5: Hoạt động trong lĩnh vực hợp tác lao động đối ngoại, phải tuân thủ những quy định của chính quyền nhân dân tỉnh, Khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung Ương, phải được cơ quan chủ quản thương vụ của chính quyền nhân dân tỉnh hoặc thành phố được chỉ định phê duyệt, mới có tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại.

  Điều 6: Xin cấp tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại, phải đáp ứng những điều kiện dưới đây:


  1. Phù hợp điều kiện pháp nhân doanh nghiệp;

  2. Vốn pháp định thực thu không thấp hơn 6 triệu NDT;

  3. Có 3 nhân viên quản lý thành thạo nghiệp vụ hợp tác lao động đối ngoại trở lên;

  4. Có chế độ quản lý nội bộ kiện toàn và chế độ xử lý trưởng hợp khẩn cấp;

  5. Đại diện pháp nhân không có tiền án tiền sự.

  Điều 7: Doanh nghiệp xin cấp tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại, phải nộp những tài liệu chứng minh đáp ứng được điều kiện quy định ở Điều 6 cho cơ quan chủ quản thương vụ của chính quyền nhân dân tỉnh hoặc thành phố được chỉ định (dưới đây gọi là cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt). Cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt phải tiến hành thẩm tra trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tài liệu chứng minh, và đưa ra quết định có đồng ý phê duyệt hay không. Nếu phê duyệt, thì cấp chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại; nếu không phê duyệt, thì gửi văn bản thông báo cho người xin cấp tư cách và nói rõ lý do.

  Người xin cấp mang chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại đến đăng ký tại cơ quan quản lý hành chính công thương theo quy định của pháp luật.

  Cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt phải đưa danh sách các doanh nghiệp nhận được chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại và đã đăng ký theo pháp luật (dưới đây gọi là doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại) lên cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện, cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện phải kịp thời thông báo cho các đại sứ quán, lãnh sứ quán Trung Quốc tại nước ngoài.

  Chưa nhận được chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại và đã đăng ký theo pháp luật, thì không được phép hoạt động trong lĩnh vực hợp tác lao động đối ngoại.

 
  Điều 8:  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được cho phép các đơn vị hoặc cá nhân khác dùng danh nghĩa của minh để tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc.

  Bất cứ đơn vị hoặc cá nhân nào cùng không được lấy danh nghĩa công tác, du lịch, du học…để tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc.

  Điều 9: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải mở tài khoản chuyên dùng tại ngân hàng do cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt chỉ định trong vòng 5 ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan quản lý hành chính công thương, nộp vào đó không dưới 3 triệu NDT tiền dự phòng xử lý rủi ro hợp tác lao động đối ngoại (dưới đây gọi là tiền dự phòng). Tiền dự phòng cũng có thể thông qua hình thức mở bảo lãnh ngân hàng với giá trị tương đương nộp cho cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt.

  Cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt cần phải công bố danh sách các doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại đã nộp tiền dự phòng ra xã hội.

  Điều 10: Tiền dự phòng dùng để chi trả những chi phí dưới đây mà doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại từ chối hoặc không có khả năng chi trả:
  1. Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại thu phí dịch vụ vi phạm quy định nhà nước cần phải trả lại cho người lao động;

  2. Tiền lương mà doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải chi trả cho người lao động theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;

  3. Những chi phí tổn thất phải bồi thường cho người lao động theo quy định của pháp luật;

  4. Những chi phí cứu trợ hoặc đưa người lao động về nước khi xảy ra trường hợp khẩn cấp.

  Sau khi sử dụng tiền tạm ứng, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải nộp bù đủ số tiền ban đầu trong vòng 20 ngày kể từ ngày sử dụng.

  Quy định về nộp, sử dụng và quản lý giám sát tiền tạm ứng, do ban ngành chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng ban ngành của Bộ tài chính Quốc vụ viện soạn thảo.

  Điều 11: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được tổ chức người động ra nước ngoài làm những công việc liên quan đến hoạt động cờ bạc, mại dâm.

  Điều 12: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải sắp xếp đào tạo cho người lao động những kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức về an toàn, ngoại ngữ cần dùng để làm việc ở nước ngoài, và pháp luật liên quan, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán của quốc gia hoặc khu vực mà dự án dùng lao động ở đó; những người lao động chưa được đào tạo không được phép đi làm việc ở nước ngoài.

  Người lao động phải tham gia đào tạo, nắm được những kỹ năng và kiến thức liên quan mà công việc cần đến, nâng cao khả năng thích nghi với yêu cầu vị trí làm việc và khả năng phòng tránh an toàn ở nước ngoài.

  Điều 13: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải mua bảo hiểm tai nạn ngoài ý muốn cho người lao động trong thời gian làm việc tại nước ngoài. Trừ trường hợp doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và chủ nước ngoài thỏa thuận là do chủ nước ngoài mua bảo hiểm cho người lao động.
  Điều 14: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải làm các thủ tục xuất cảnh cho người lao động, và hỗ trợ người lao động làm các thủ tục cư trú, giấy phép lao động ở nước ngoài…

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại sau khi tổ chức người lao động xuất cảnh, phải kịp thời báo cáo tình hình có liên quan cho các đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc tại nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó.

  Điều 15: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại, người lao động phải tuân thủ pháp luật của nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó, tôn trọng tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán và truyền thống văn hóa nước sở tại.

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại, người lao động không được thực hiện những hoạt động tổn hại đến an toàn quốc gia và lợi ích quốc gia.

  Điều 16: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải theo sát tìm hiểu tình hình công việc và cuộc sống của người lao động tại nước ngoài, hỗ trợ giải quyết những vấn đề và khó khăn trong công việc và cuộc sống của người lao động, kịp thời phản ánh những yêu cầu hợp lý của người lao động với chủ nước ngoài
  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại đưa hơn 100 người lao động đến cùng một quốc gia hoặc khu vực, phải cử người quản lý đi cùng, đồng thời báo danh sách người quản lý lên các đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc tại nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó. 
  Điều 17: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải soạn thảo các phương án ứng phó khẩn cấp. Với những trường hợp khẩn cấp ở nước ngoài, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải xử lý kịp thời, thỏa đáng, đồng thời lập tức báo cáo cho các đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc tại nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó và báo cáo cho các ban ngành hữu quan trong nước.

  Điều 18: Nếu nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó xảy ra những tình trạng khẩn cấp như chiến tranh, bạo loạn, thiên tai nghiêm trọng, và chính phủ Trung Quốc đưa ra những sắp xếp lánh nạn tương ứng, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và người lao động phải tuân theo và phối hợp thực hiện.
  Điều 19: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại nếu ngừng triển khai hợp tác lao động đối ngoại, phải sắp xếp ổn thỏa cho những lao động đang làm việc tại nước ngoài do doanh nghiệp đó đưa đi, đồng thời đưa phương án sắp xếp trình lên cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt . Cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt phải đưa phương án sắp xếp trình lên ban ngành chủ quản thương vụ Quốc vụ viện, ban ngành chủ quản thương vụ Quốc vụ viện phải kịp thời thông báo cho đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc tại nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó.
  Điều 20: Người lao động có quyền khiếu nại lên cơ quan chủ quan thương vụ và các cơ quan hữu quan về hành động vi phạm hợp đồng hoặc xâm hại quyền lợi hợp pháp khác của người lao động của doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại. Cơ quan tiếp nhận khiếu nại phải xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật trong phạm vi chức trách của mình, đồng thời phản hồi cho người khiếu nại tình hình xử lý.

Chương III. Hợp đồng liên quan đến hợp tác lao động đối ngoại

Điều 21: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải cùng chủ nước ngoài ký kết hợp đồng hợp tác lao động bằng văn bản, nếu chưa ký kết hợp đồng hợp tác lao động bằng văn bản, thì không được phép tổ chức đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài.

 
  Hợp đồng hợp tác lao động phải ghi rõ những quy định dưới đây có liên quan đến đảm bảo lợi ích cho người lao động:
  1. Nội dung làm việc, địa điểm làm việc, thời gian làm việc và nghỉ ngơi nghỉ phép của người lao động;

  2. Thời hạn hợp đồng:

  3. Lương và phương thức trả lương cho người lao động;

  4. Việc nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động;
 
  5. Điều kiện lao động, bảo hộ lao động, đào tạo nghề nghiệp và bảo hộ nguy hiểm nghề nghiệp cho người lao động;

  6. Đãi ngộ phúc lợi và điều kiện sinh hoạt của người lao động;

  7. Làm thủ tục cư trú, giấy phép lao động ở nước ngoài cho người lao động;

  8. Mua bảo hiểm tai nạn ngoài ý muốn cho người lao động;

  9. Bồi thường kinh tế cho người lao động khi hợp đồng với người lao động bị hủy do nguyên nhân của chủ nước ngoài;

  10. Hỗ trợ, cứu trợ người lao động khi xảy ra trường hợp khẩn cấp;

  11. Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.

  Điều 22.  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại khi ký hợp đồng hợp tác lao động với chủ nước ngoài, phải tìm hiểu tình hình của chủ nước ngoài và tình hình dự án dùng người, cũng như những quy định pháp luật liên quan của nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó.
  Nếu pháp luật nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó quy định doanh nghiệp hoặc tổ chức sử dụng lao động nước ngoài cần phải được cấp phép, thì doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại chỉ có thể ký hợp đồng hợp tác lao động với những doanh nghiệp hoặc tổ chức đã được cấp phép.

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được phép ký hợp đồng hợp tác lao động vói cá nhân nước ngoài.

  Điều 23: Trừ trường hợp quy định trong mục 2 điều này, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải ký kết hợp đồng dịch vụ bằng văn bản với người lao động; nếu chưa phải ký kết hợp đồng dịch vụ bằng văn bản với người lao động, không được phép tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc. Hợp đồng dịch vụ phải ghi rõ những quy định có liên quan đến đảm bảo lợi ích cho người lao động, cùng với những hạng mục dịch vụ, phí dịch vụ và hình thức thu phí, trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.

  Nếu doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại tổ chức đưa người lao động đã xây dựng quan hệ lao động với họ ra nước ngoài làm việc, thì hợp đồng lao động ký kết với người lao động phải ghi rõ những quy định có liên quan đến đảm bảo lợi ích cho người lao động; nếu chưa ký hợp đồng lao động với người lao động thì không được tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc.

  Điều 24: Khi doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại cùng người lao động ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ, phải thông báo chính xác những quy định có liên quan đến đảm bảo lợi ích cho người lao động và những tình hình khác mà người lao động muốn tìm hiểu cho người lao động biết, đồng thời nhắc nhở rõ rang cho người lao động biết về những rủi ro khi làm việc tại nước ngoài bao gồm cả rủi ro về an toàn tính mạng, không được giấu diếm tin tức hoặc cung cấp những tin tức giả cho người lao động.
  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại có quyền tìm hiểu những thông tin cơ bản cá nhân của người lao động có liên quan trực tiếp đến ký kết hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động, người lao động phải cung cấp đúng sự thật.

  Điều 25: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại khi thu phí dịch vụ của người lao động có ký kết hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp, phải phù hợp với quy định liên quan về giá cả do cơ quan chủ quản giá cả Quốc vụ viện cùng cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện đưa ra.

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được phép thu phí dịch vụ của người lao động ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp.

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được dùng bất cứ lý do gì để thu tiền đặt cọc hoặc yêu cầu người lao động cung cấp đảm bảo bằng tài sản.

  Điều 26: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải trình hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động, bản copy hợp đồng hợp tác lao động và danh sách người lao động lên cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt vào sổ trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động với người lao động. Cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt phải thông báo thông tin liên quan đến dự án dùng người, chủ nước ngoài và danh sách người lao động cho cơ quan chủ quan thương vụ Quốc vụ viện.

  Cơ quan chủ quan thương vụ nếu phát hiện hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động, hợp đồng hợp tác lao động không ghi rõ những nội dung bắt buộc như quy định trong điều lệ này, phải yêu cầu doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại bổ sung.

  Điều 27: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải phụ trách hỗ trợ người lao động làm hợp đồng xác định quan hệ lao đồng với chủ nước ngoài, đồng thời đảm bảo những điều khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động trong hợp đồng phải giống như nội dung tương ứng của hợp động hợp tác lao động.
  Điều 28: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại, người lao động phải tuân thủ hợp đồng, thực hiện toàn diện các nghĩa vụ của minh như quy định trong hợp đồng.

  Điều 29: Người lao động nếu hưởng những quyền lợi thực tế ở nước ngoài không phù hợp với quy định trong hợp đồng, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải hỗ trợ bảo vệ quyền lợi người lao động, yêu cầu chủ nước ngoài thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng, bồi thường tổn thất; người lao động chưa nhận được bồi thường, có quyền yêu cầu doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại chịu trách nhiệm bồi thường. Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại nếu không hỗ trợ người lao động yêu cầu chủ nước ngoài bồi thường, người lao động có thể trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại bồi thường.

  Người lao động nếu hưởng những quyền lợi thực tế ở nước ngoài không phù hợp với quy định của nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải hỗ trợ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, yêu cầu chủ nước ngoài thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bồi thường tổn thất.
  

Nếu do doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại giấu diếm thông tin liên quan hoặc cung cấp thông tin giả, dẫn đến việc người lao động nếu hưởng những quyền lợi thực tế ở nước ngoài không phù hợp với quy định trong hợp đồng, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại phải chịu trách nhiệm bồi thường.

 

Chương IV: Dịch vụ và quản lý của chính quyền

Điều 30: Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng với các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện xây dựng chế độ thu thập thông tin, thông báo hợp tác lao động đối ngoại, cung cấp dịch vụ thông tin miễn phí cho doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và người lao động
  Điều 31: Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng với các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá rủi ro hợp tác lao động đối ngoại, kịp thời ban bố kết quả đánh giá tình hình an toàn của các nước và khu vực có liên quan, đưa ra những thông tin cảnh báo, chỉ đạo doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại làm tốt công tác phòng tránh rủi ro;  nếu tình hình an toàn của các nước và khu vực có liên quan khó đảm bảo an toàn cho người lao động, doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không được tổ chức người lao động tới những nước hoặc khu vực này làm việc.

  Điều 32: Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng cơ quan thống kê xây dựng chế độ thống kê hợp tác lao động đối ngoại, kịp thời nắm bắt và tổng kết, phân tích tình hình phát triển hợp tác lao động đối ngoại

  Điều 33: Ngân sách nhà nước cung cấp cho việc đào tạo người lao động những hỗ trợ cần thiết.
  Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng với cơ quan đảm bảo xã hội và nguồn nhân lực Quốc vụ viện phải tăng cường chỉ đạo và giám sát đối với việc đào tạo người lao động.

  Điều 34: Chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên căn cứ vào tình hình thực tế về triển khai hợp tác lao động đối ngoại của địa phương mình, theo quy định của cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện, tổ chức xây dựng các nền tảng phục vụ hợp tác lao động đối ngoại (dưới đây gọi tắt là nền tảng dịch vụ), cung cấp những dịch vụ miễn phí có liên quan cho doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và người lao động, khuyến khích, dẫn hướng doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại thông qua nền tảng dịch vụ tuyển dụng người lao động.

  Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện phải tăng cường chỉ đạo và giám sát sự vận hành của nền tảng dịch vụ.

  Điều 35: Đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc ở nước ngoài cung cấp những hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại khi tìm hiểu tình hình chủ nước ngoài và dự án dùng người, cũng như pháp luật nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó, bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và người lao động tại nước ngoài theo đúng chức trách của mình, phát hiện những hành vi vi phạm quy định của điều lệ này phải kịp thời thông báo cho cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và chính quyền nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung Ương có liên quan.

  Người lao động có thể phản ánh những nhu cầu liên quan đến Đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc tại nước ngoài một cách hợp pháp, có trình thự, không được làm phiền công tác hàng ngày của Đại sứ quán, lãnh sự quán.

  Điều 36: Các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện, chính quyền nhân dân địa phương liên quan cấp huyện trở lên phải xây dựng cơ chế kiện toàn về cảnh báo, phòng chống và xử lý khẩn cấp những trường hợp khẩn cấp của hợp tác lao động đối ngoại, chế định những phương án dự phòng xử lý khẩn cấp những trường hợp khẩn cấp của hợp tác lao động đối ngoại.


  Việc xử lý khẩn cấp những trường hợp khẩn cấp của hợp tác lao động đối ngoại do chính quyền nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung Ương sở tại của đơn vị hoặc cá nhân tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc phụ trách, chính quyền nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung Ương mà người lao động có hộ khẩu phối hợp xử lý.

 
  Đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc ở nước ngoài hỗ trợ xử lý những trường hợp khẩn cấp của hợp tác lao động đối ngoại

 

Điều 37: Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và các cơ quan hữu quan của Quốc vụ viện xây dựng chế độ ghi chép và công bố tín dụng xấu trong hợp tác lao động đối ngoại, công bố hành vi doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại và chủ nước ngoài không thực hiện quy định hợp đồng, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của người lao động, và quyết định xử lý đối với doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại.

  Điều 38: Đối với những hành vi tổ chức người lao động ra làm việc tại nước ngoài vi phạm quy định điều lệ này, và những hành vi khác vi phạm quy định điều lệ này, bất kỳ một đơn vị và cá nhân nào đều có quyền báo cáo cho các cơ quan hữu quan như thương vụ, công an, quản lý công thương…Cơ quan nhận được báo cáo phải kịp thời xử lý trong phạm vi chức trách của mình.

  Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện cùng với các ban ngành hữu quan của Quốc vụ viện công an, quàn lý hành chính công thương…, xây dựng chế độ quản lý liên quan, phòng chống và ngăn cản những hành vi tổ chức người lao động ra làm việc tại nước ngoài một cách phi pháp.

 

Chương 5: Trách nhiệm pháp luật

Điều 39: Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hợp tác lao động đối ngoại mà chưa có được tư cách kinh doanh theo quy định của pháp luật, sẽ do cơ quan chủ quản thương vụ trình lên cơ quan quản lý hành chính công thương xử lý theo “Quy định cấm hoạt động không có GPKD”; trường hợp cấu thành phạm tội, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật.

  Điều 40: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại có một trong những trường hợp dưới đây, cơ quan chủ quản thương vụ sẽ thu hồi chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại, thu giữ những thu nhập phạm pháp:

  (1) Tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc dưới danh nghĩa thương vụ, du lịch, du học…;

  (2) Cho phép đơn vị hoặc cá nhân khác dùng danh nghĩa của mình tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc;

  (3) Tổ chức người lao động ra nước ngoài làm công việc liên quan đến cờ bạc, mại dâm;

  Điều 41: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không nộp hoặc nộp chưa đủ tiền bảo lãnh theo quy định của điều lệ này, sẽ do cơ quan chủ quản thương vụ ra lệnh đóng bù; trường hợp từ chối, sẽ thu hồi chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại.


  Điều 42:  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại có một trong những trường hợp dưới đây, cơ quan chủ quản thương vụ sẽ ra lệnh chỉnh sửa; trường hợp từ chối chính sửa sẽ phạt 50.000NDT đến 100.000NDT, đồng thời phạt người chịu trách nhiệm chính 10.000NDT – 30.000NDT :

  (1) Chưa sắp xếp cho người lao động học tập đào tạo đã tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc;

  (2) Không mua bảo hiểm tại nạn ngoài ý muốn trong thời gian làm việc tại nước ngoài theo quy định của điều lệ này;

  (3) Không cử người quản lý đi cùng theo quy định của điều lệ này.

  Điều 43:  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại có một trong những trường hợp dưới đây, cơ quan chủ quản thương vụ sẽ ra lệnh chỉnh sửa; phạt 100.000NDT đến 200.000NDT; đồng thời phạt người chịu trách nhiệm chính 20.000NDT – 50.000NDT; trường hợp gây ra tranh chấp lao động lớn ở nước ngoại, gây ra sự kiện khẩn cấp hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì sẽ thu hồi chứng nhận tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại:


  (1) Chưa ký hợp động lao động với chủ nước ngoài đã tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc;

  (2) Chưa ký hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động với người lao động theo quy định của điều lệ này đã tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc;

  (3) Vi phạm quy định của điều lệ này, ký hợp đồng hợp tác lao động với chủ nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài chưa được phê duyệt và tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc;


  (4) Ký hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động với người lao động nhưng lại giấu diếm những thông tin liên quan hoặc cung cấp thông tin giả;

  (5) Không kịp thời xử lý trường hợp khẩn cấp xảy ra ở nước ngoài;

  (6) Ngừng triển khai hợp tác lao động đối ngoại, nhưng không sắp xếp cho người lao động đang làm việc ở nước ngoài do mình đưa đi.

  Có tình tiết quy định tại mục 4 điều trên, nếu cấu thành phạm tội, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật.
 
  Điều 44: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại thu phí dịch vụ của người lao động ký kết hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp mà không phù hợp với quy định liên quan của nhà nước, hoặc thu tiền đặt cọc của người lao động, yêu cầu người lao động cung cấp bảo lãnh bằng tài sản, sẽ do cơ quan chủ quản về giá cả xử lý theo quy định hành chính và pháp luật.

  Trường hợp doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại thu phí dịch vụ của người lao động ký kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp, sẽ xử phạt theo quy định của “Luật hợp đồng lao động nước CHND Trung Hoa”

  Điều 45:  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại có một trong những trường hợp dưới đây, cơ quan chủ quản thương vụ sẽ ra lệnh chỉnh sửa; trường hợp từ chối chỉnh sửa, phạt 10.000NDT đến 20.000NDT; đồng thời phạt người chịu trách nhiệm chính 2.000NDT – 5.000NDT:

  (1) Chưa trình hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động, bản copy hợp đồng hợp tác lao động và danh sách người lao động lên cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt vào sổ;

  (2) Sau khi tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc, chưa báo cáo tình hình liên quan cho Đại sứ quán, lãnh sự quán Trung Quốc đặt tại nước hoặc khu vực mà dự án dùng người ở đó, hoặc chưa trình danh sách nhân viên quản lý đi cùng để cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt vào sổ theo quy định của điều lệ này.

 
  (3) Chưa soạn thảo phương án ứng phó khẩn cấp;

  (4) Ngừng triển khai hợp tác lao động đối ngoại, nhưng không trình phương án sắp xếp cho người lao động đang làm việc ở nước ngoài do mình đưa đi cho cơ quan chủ quản thương vụ vào sổ.

  Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại từ chối không trình hợp đồng dịch vụ hoặc hợp đồng lao động, bản copy hợp đồng hợp tác lao động lên cơ quan chủ quản thương vụ phụ trách phê duyệt vào sổ, đồng thời hợp đồng không ghi rõ các điều khoản bắt buộc theo quy định của điều lệ này, hoặc sau khi hợp đồng được vào sổ, từ chối không bổ sung những điều khoản bắt buộc vào hợp đồng theo yêu cầu của cơ quan chủ quản thương vụ, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 43 của điều lệ này.
  Điều 46: Cơ quan chủ quản thương vụ, và các cơ quan hữu quan khác trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm diều lệ này, phát hiện ra những hành vi phạm pháp tình nghi cấu thành phạm tội, phải kịp thời chuyển sang cơ quan tư pháp xử lý theo pháp luật.

 
  Điều 47: Nhân viên cơ quan chủ quản thương vụ và các cơ quan hữu quan, trong khi làm công tác quản lý giám sát hợp tác lao động đối ngoại, nếu có một trong những trường hợp dưới đây, sẽ bị xử lý theo pháp luật; trường hợp cấu thành phạm tội, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật:
 
  (1) Phê duyệt cho những đơn xin cấp tư cách kinh doanh hợp tác lao động đối ngoại không phù hợp với quy định của điều lệ này;


  (2) Không hủy phê duyệt cũ khi doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại không còn phù hợp với quy định của điều lệ này;

  (3) Không xử lý theo pháp luật những hành vi tổ chức người lao động ra nước ngoài làm việc vi phạm quy định của điều lệ này hoặc những hành vi khác vi phạm quy định của điều lệ này;

  (4) Các hành vi lạm dụng quyền hạn, lơ là trong công việc, tư lợi cá nhân, không thực hiện trách nhiệm quản lý giám sát theo quy định của pháp luật.

 

Chương 6: Điều khoản bổ sung

  Điều 48: Những thương hội về hợp tác lao động đối ngoại triển khai hoạt động theo điều lệ phù hợp với quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ cho các thành viên, phát huy tác dụng kỷ luật tự giác.

  Điều 49: Về quản lý nhân viên được cử đi nước ngoài làm việc cho các công trình thầu đối ngoại, thự hiện theo “Điều lệ quản lý công trình thầu đối ngoại” và quy định của Cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện, cơ quan chủ quản xây dựng thành thị nông thôn, nhà ở của Quốc vụ viện.

  Quy định quản lý hợp tác lao động đối ngoại cho nhân viên trên biển được cử đi nước ngoài (không kể thuyền viên ngư nghiệp), do cơ quan chủ quản giao thông vận tải Quốc vụ viện soạn thảo riêng dựa theo “Điều lệ thuyền viên nước CHND Trung Hoa” và các quy định liên quan của điều lệ này.

  Điều 50: Tổ chức người lao động sang đặc khu hành chính Hong Kong, Macau và Đài Loan làm việc, tham chiếu thực hiện theo quy định của điều lệ này.

  Điều 51: Doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại tổ chức người lao động ra các nước hoặc khu vực đặc biệt được các cơ quan hữu quan như cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và cơ quan ngoại giao Quốc vụ viện xác nhận để làm việc, phải được sự phê duyệt của cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện và cơ quan ngoại giao Quốc vụ và các cơ quan hữu quan.

  Điều 52: Những doanh nghiệp hợp tác lao động đối ngoại được phê duyệt theo quy định của nhà nước trước khi thực thi điều lệ này, nếu không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của điều lệ này, phải đạt được đủ điều kiện theo quy định của điều lệ này trong thời gian quy định của cơ quan chủ quản thương vụ Quốc vụ viện; nếu quá hạn vẫn chưa đủ điều kiện theo quy định của điều lệ này, thì không được tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực hợp tác lao động đối ngoại .

 
  Điều 53: Điều lệ này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2012.


Copyright Nanning Municipal Government All Rights Reserved.
englishinfo@nanning.gov.cn Your kindly feedback will be highly expected.